Bài đọc thiêng liêng

QUÊN ƠN HUỆ

“Có thật Thiên Chúa bảo:
các ngươi không được ăn”

(St 2, 16-17 ; 3, 1-7)

I. Chuẩn bị

  • Khung cảnh: Vườn Eden, nơi chốn của ơn huệ (tất cả trái cây trong vườn người cứ ăn) và cũng là nơi chốn của thử thách (sứ mạng cầy cấy, canh giữ và nhất là lệnh truyền, tượng trưng cho mọi giới hạn, thiếu thốn… thuộc về thân phận con người).
  • Ơn xin: xin có được kinh nghiệm sâu đậm về ơn huệ và tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Ki-tô, để nhận ra với nhiều xúc động, yếu tính của tội, nghĩa là cái có mặt trong mọi thứ tội, trong đó có tội của chúng ta, là thái độ vô ơn.

II. Lắng nghe

1. Lệnh truyền : « Hết mọi cây trong vườn, ngươi có thể ăn; nhưng… » (2, 16-17)

Lệnh truyền trong bản văn St 2 của chúng ta tương đương với sứ mạng thống trị thú tính, được diễn tả trong St 1, 28; Hc 17, 4 và Tv 8, 6-9); và chính trong mức độ con người thống trị thú tính, con người sống nhân tính của mình, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Để sống sứ mạng này, con người phải dựa vào kinh nghiệm về ơn huệ và tình yêu của Thiên Chúa.

Thực vậy, Thiên Chúa luôn ban ơn trước; và ở đây ngay trong lệnh truyền, ơn huệ cũng đi trước lệnh cấm. Đó chính cách hành động của Thiên Chúa trong sáng tạo và trong lịch sử cứu độ. Chiều kích nhưng không và quảng đại của ơn huệ còn được nêu bật bởi sự kiện: việc trồng vườn Eden và đưa con người vào đó, được mô tả như những ơn huệ « dư tràn », chất thêm vào ơn huệ sáng tạo ra con người. « Cầm tay » con người và « dẫn vào » (2, 15): đó là một tiến trình gợi lại việc đưa dân được tuyển chọn vào Ðất Hứa. Chúng ta cũng có thể hiểu như vậy trong hành trình làm người, và trong hành trình ơn gọi của chúng ta, ơn gọi đi theo Đức Ki-tô trong đời sống dâng hiến.

Ở nguồn sự sống, luôn luôn là ân huệ nhưng không tuyệt đối ; điều này đúng ở thời điểm sáng tạo và ở khởi đầu sự sống của chúng ta (x. Tv 139). Và chúng ta chỉ hiểu được và giữ được lệnh truyền và mọi thứ lề luật khác, khi nhận ra và ghi nhớ ân huệ sự sống mà chúng ta đã lãnh nhận một cách nhưng không ; nhận ra và ghi nhớ, chính là động lực để chúng ta đi vào và ở lại trong tương quan với Đấng ban ơn, để được tái sinh và đi vào chính lộ ngàn đời (Tv 139, 24). Vì ơn huệ và Người ban ơn huệ không thể tách rời. Chính trong và nhờ tương quan với Đấng ban ơn mà chúng ta quảng đại đón nhận, hiểu và giữ lệnh truyện và mọi thứ luật xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ Thiên Chúa. Lệnh truyền là lời dặn dò của một người dành cho một người trong một mối tương quan liên vị : tương quan ân sủng, tương quan ân huệ, tương quan tình yêu nhưng không Chúa dành cho chúng ta, khi chúng ta chưa là gì.

“Lệnh Truyền”
Thiên Chúa           <==>          Con người[tương quan ơn huệ và tình yêu, đi đến cùng nơi Đức Ki-tô]

Tại sao phải có lệnh truyền?

  • Lệnh truyền: lề luật, con người không thể sống mà không có luật; nhưng trong thực tế con người luôn có vấn đề với lề luật: không giữ được luật, dùng luật như phương tiện đề dò xét và lên án.
  • Lệnh truyền: giúp sống nhân tính, được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa; để sống nhân tính, phải thống trị thú tính. Vì thế, tất cả lệnh truyền đều qui về lệnh truyền căn bản: ngươi không được ham muốn (Rm 7), bởi vì ham muốn và chiều theo lòng ham muốn, là sống theo thú tính
  • Lệnh truyền: giới hạn của thân phận con người; con người được dựng nên với sự sống giới hạn, để khao khát sự sống vô hạn. Và khi khao khát, Thiên Chúa sẽ ban tặng. Quà tặng, nhất là quà tặng vô cùng quí giá là chính sự sống của Thiên Chúa, chỉ có ý nghĩa khi được trao ban cho một ngôi vị trưởng thành, biết tín thác, yêu thương, trung tín và có lòng khao khát.

Và chính trong tương quan với Chúa, Đấng ban ơn cách nhưng không, chứ không phải tương quan với luật này luật kia, mà chúng ta hiểu TỘI là gì.

Nếu lệnh truyền làm con người hiểu sai về Thiên Chúa, thì chính ở nơi Đức Ki-tô mà tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho con người được làm rõ và đạt tới mức tuyệt đỉnh : « Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?… Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô » (Rm 8, 32.39). Và Đức Ki-tô cũng làm rõ khởi điểm, nền tảng và cùng đích của mọi lệnh truyền là “lệnh truyền yêu thương”: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến nhau, khơi đi từ kinh nghiệm sâu đậm và tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người và từng người nơi Đức Ki-tô.

2. Vi phạm lệnh truyền (c. 3, 1-6)

a. St 3, 1

Con rắn nói : « Có thật Thiên Chúa bảo: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?” ». Những chữ đầu tiên: “Có thật Thiên Chúa bảo: các ngươi không được ăn…” đã chứa đựng tất cả mánh khóe, sự xảo quyệt của con rắn. Thiên Chúa là Đấng nói: “không”; như thế, Thiên Chúa được trình bày cho ý thức của người phụ nữ như là người chuyên ngăn cấm. Con rắn trích lời của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã nói: các ngươi không được ăn”. Nhưng thực ra Thiên Chúa đã nói gì? Như chúng ta đã suy niệm về lệnh truyền: “Hết mọi cây trong vườn ngươi có thể ăn…” (2,16). Như vậy, Thiên Chúa đã nói điều hoàn toàn ngược lại với điều con rắn nói.

Dĩ nhiên, “ăn tất cả trừ một” và “không ăn được tất cả” là hai điều không mâu thuẫn, ít nhất trên bình diện luận lý. Nhưng trên bình diện tâm cảm và thực tế, đó là hai câu nói mâu thuẫn. Lời Thiên Chúa nhấn mạnh trên ơn huệ, vốn đã được thể hiện trong hành vi đặt Adam vào vườn Địa Đàng, sau khi ông được kéo ra từ bụi đất. Đối diện với câu “Ta ban cho ngươi tất cả, nhưng…”, con rắn nói: “Thiên Chúa ngăn cấm ông bà”. Năng động của lời Thiên Chúa bị con rắn đảo ngược lại hoàn toàn: điều cấm được đưa lên trước ơn huệ.

b. St 3, 2-3

Câu trả lời của người phụ nữ: “Trái các cây trong vườn, chúng tôi được ăn. Nhưng trái của cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã nói: các ngươi không được ăn và các ngươi không được đụng tới e rằng các ngươi sẽ chết”. Người phụ nữ nhấn mạnh bằng cách nói thêm: “các ngươi không được đụng tới”. Điều này có nghĩa gì? Vì động lực nào? Chúng ta có thể coi đó là bằng chứng của lòng nhiệt thành. Nhưng bên dưới lòng nhiệt thành này, ẩn dấu tâm trạng run sợ hoặc giận dỗi không bình an: thay vì giữ luật vì lòng mến, con người run sợ vì đó là điều cấm, gây tai họa hay án phạt nếu vi phạm; thay vì hiểu tốt và hiểu đúng về Đấng ban lệnh truyền, con người giận dỗi không bình an, vì con người tự nhủ: “Tại sao lại cấm ăn? Đụng tới hay nhìn ngắm, mình cũng không thèm!”

Chúng ta có thể nhận ra rằng người phụ nữ không giữ lại chữ “chắc chắn” đi trước bản án: “ Vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết”; và từ này được đổi thành “kẻo”: “kẻo phải chết”. Xét về hình thức, bà đã chuyển mệnh đề tất yếu thành mệnh đề khuyến dụ! Như thế, thái độ chê ghét đối với hành vi xuất phát từ mối đe dọa hình phạt bao quanh hành vi, chứ không từ cái xấu mà mọi hành vi vi phạm chất chứa cách tự tại.

“E rằng” hay “kẻo”: cái chết tự tại trở thành cái chết được nhìn như là hình phạt. Chúng ta giữ giới răn thường là vì sợ bị phát hiện và bị hình phạt (chẳng hạn vượt đèn đỏ); khi không có ai, hay không có hình phạt, chúng ta “tới luôn”. Trong khi đó, “cái chết” hiểu theo nghĩa rộng, có ở ngay trong hành vi lỗi luật hay lỗi lời dặn hay lời thề: giết người, ngoại tình, không vâng lời cha mẹ, lỗi luật đời tu…

c. St 3, 4-5

Vì động lực sợ hãi chi phối người phụ nữ, nên con rắn sẽ khai thác chính điều đó: “ông bà sẽ không chết. Chính vì Thiên Chúa biết rằng ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa, biết điều tốt và điều xấu”. Đây là sự phủ nhận minh nhiên hậu quả, được chính Thiên Chúa công bố. Trở ngại gây ra sự sợ hãi đã bị dẹp bỏ bởi lời khẳng định này của con rắn.

Nhưng, dĩ nhiên, chỉ một lời khẳng định như lời khẳng định của con rắn có lẽ chưa mang lại sức nặng; còn phải đưa ra một lý do khiến con người không tin Thiên Chúa. Thực vậy, tất cả phụ thuộc vào sự tín nhiệm dành cho lý do liên quan đến Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nói trái với sự thật: trái cây mang lại hiệu quả tuyệt vời, mà tại sao Thiên Chúa lại nói rằng, ăn vào thì chết? Tại sao Thiên Chúa “nói dối” con người? Trong lý do con rắn đưa ra, có sự hấp dẫn của cái biết: Thiên Chúa biết rằng… mắt ông bà sẽ mở ra. Như vậy, Thiên Chúa biết điều mà ông bà không biết; Thiên Chúa dấu điều gì đó, Thiên Chúa lừa dối. Điều này kích thích sự tò mò: tại sao Thiên Chúa lại lừa dối? Bởi vì “ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa”. Ở đây, có một điều được gỉa định như là hiển nhiên: Thiên Chúa không muốn con người trở nên như Thiên Chúa. Thiên Chúa ngăn cấm một hạnh phúc vô hạn, và Ngài đã che dấu lý do này: lý do của hành vi ngăn cấm chính là ý muốn giữ lấy cho mình bản tính thần linh và đặc quyền của mình.

d. St 3, 6

Nếu cuộc đối thoại đã chấm dứt, thì những gì xẩy ra vẫn cứ xẩy ra. Tác giả Kinh Thánh không cần phải nói với chúng ta rằng người đàn bà đã tin con rắn. Tác giả nói ngắn gọn bằng cách chỉ mô tả cho chúng ta kết quả của sự cả tin: “Người đàn bà thấy trái cây ăn chắc là thật ngon, nhìn hấp dẫn, đáng quí để hiểu biết”. Chúng ta thấy rằng lòng ham muốn đã bắt đầu phát sinh nơi người phụ nữ. Bây giờ chúng ta cũng hiểu được rằng lòng ham muốn dẫn đến hành vi vi phạm lệnh truyền không phải là đầu tiên; nó là hậu quả của cả một tiến trình biến đổi nội tâm: quên ơn huệ dẫn đến nghi ngờ Thiên Chúa:

Ghen tị
Quên ơn huệ
Thiên Chúa ban  =>
Nghi ngờ
Thiên Chúa     =>
     Vi phạm =>  lệnhtruyền
Ham muốn
Nội tâm (*)Hành vi

Lệnh truyền khởi đi từ tương quan ơn huệ và tình yêu, nên tội không thể được hiểu là vi phạm lệnh truyền, nhưng có liên quan đến nhận thức và tâm tình của tôi dành cho Chúa, ngang qua ơn huệ và tình yêu của Người: con đắc tội với trời và với Cha. Vì thế, trong những ngày này: chúng ta không chỉ xét hành vi, nhưng còn nhận ra những động lực sâu kín của nội tâm, của tương quan thực sự giữa chúng ta và Thiên Chúa.

(*) Vi phạm luật có nguồn gốc là vấn đề nội tâm, chính vì thế để “hoàn tất lề luật”, cũng phải khởi đi từ vấn đề nội tâm. Đó chính là cách Đức Giê-su mời gọi chúng ta hoàn tất lề luật (Mt 5, 17-48). Và Người không chỉ mời gọi, nhưng còn tái sinh nội tâm chúng ta bằng Lời, Mình và Máu của chính Người.

Con người, bởi sự xúi dục của ma quỉ, ghen tị với Thiên Chúa và ham muốn thiên tính của Ngài; nhưng Thiên Chúa, nơi Đức Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, từ bỏ thiên tính để mang lấy nhân tính và sống nhân tính đến cùng như con đường dẫn đến sự sống viên mãn nơi Thiên Chúa: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Ph 2, 6-7)

Thủa ban đầu, “lệnh cấm ăn” (tượng trưng cho sự sống giới hạn và đầy thách đố và khổ đau), làm cho con người nghi ngờ Thiên Chúa; thì nay, mỗi ngày, Thiên Chúa nói với chúng ta nơi Đức Ki-tô: “Này là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn”! Để chúng ta đừng nghi ngờ tình yêu của Thiên Chúa nữa.

3. Hậu quả và lời hứa chữa lành (c. 7)

“Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn”. Cách sa ngã của bà và của ông: bà như lá rơi, ông như cục đá; trong khi ông là người chịu trách nhiệm (vì thế ông là người bị tra vấn đầu tiên). “Khi đó, mắt của cả hai người mở ra và họ biết rằng mình trần trụi”. Nghĩa là trở nên giống con rắn. Điều này có nghĩa là, loài người chúng ta đã bị con rắn tiêm nọc độc vào người. Chính nọc độc gây chết chóc, chứ không phải Thiên Chúa phạt chết. Nhưng nọc độc là gì? Lời đối thoại của con rắn và người phụ nữ giúp nhận ra nọc độc. Nhận ra là đã được chữa lành rồi (tương tự như con rắn đồng bị treo lên cao trong Ds 21, 4-9).

Khi Đức Chúa hỏi tới, người phụ nữ đáp: “Con rắn lừa dối con nên con đã ăn”, con người bị sự dữ, vốn mạnh hơn con người, lừa dối. Vì thế con người đáng thương hơn là đáng phạt. Hình phạt nếu có, đã hàm chứa ngay trong hành vi vi phạm rồi. Và Thiên Chúa thì mạnh hơn sự dữ. Lời hứa cứu độ được ban cho Người Phụ Nữ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” Con rắn cắn gót, nguy hiểm nhưng còn chữa lành được; nhưng con rắn bị đập nát đầu, thì vô phương cứu chữa.

*  * *

Con rắn đã dựa vào lệnh truyền Chúa ban để làm cho con người quên ơn và nghi ngờ Thiên Chúa. Vì thế, có thể nói, Thiên Chúa cũng có trách nhiệm, như thánh Phao-lô đã suy tư:

Thật vậy, tôi đã chẳng biết ham muốn là gì, nếu Luật không dạy: Ngươi không được ham muốn. Tội đã thừa cơ, dùng điều răn mà làm nảy sinh trong tôi đủ thứ ham muốn. Thật vậy, không có Lề Luật thì tội đã chết rồi. Xưa kia, không có Luật thì tôi sống; nhưng từ khi có điều răn thì tội bắt đầu sống, còn tôi thì chết.

(Rm 7, 7-10)

Vì thế thánh nhân nói, và chỉ có ngài mới dám nói ra điều này: “Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không tuân phục, để thương xót mọi người”! (Rm 11, 32). Và nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa vừa bày tò lòng thương xót, vừa chữa lành và vừa chiến thắng Sự Dữ.

III. Tâm sự với Đức Ki-tô chịu đóng đinh và kết thúc với kinh Lạy Cha

https://docs.google.com/document/d/16dH_qvbbDYtfHLhncj1WSeErwoRzwwxYcSVL5kCDigs/edit

TÔNG HUẤN

GAUDETE ET EXSULTATE

HÃY VUI MỪNG VÀ HÂN HOAN

Của Đức Thánh Cha Phanxicô

Về lời kêu gọi nên thánh
trong thế giới hôm nay
(19/03/2018)

*  * *

Chương Năm

CHIẾN ĐẤU, TỈNH THỨC

PHÂN ĐỊNH

158. Đời sống Kitô-hữu là một cuộc chiến đấu liên lỉ. Cần phải có sức mạnh và can đảm, để chống lại các cám dỗ của ma quỷ và để loan báo Tin Mừng. Cuộc chiến này rất cao đẹp, vì cho phép chúng ta ăn mừng (célébrer) mỗi khi Chúa chiến thắng trong cuộc đời của chúng ta.

I. CHIẾN ĐẤU và TỈNH THỨC

159. Đây không chỉ là một cuộc chiến chống lại thế gian và não trạng thế tục, vốn hay lừa dối chúng ta, khiến chúng ta u mê đần độn và làm cho chúng ta biến thành những người tầm thường, thiếu dấn thân và không niềm vui. Cuộc chiến đấu này cũng không giản lược vào cuộc chiến đấu chống lại những yếu đuối và những xu hướng xấu của con người (mỗi người đều có xu hướng xấu riêng: biếng nhác, xa hoa, ham muốn, ghen tị, những xu hướng khác nữa). Đây cũng là một cuộc chiến đấu thường xuyên chống lại ma quỷ, tên trùm của sự dữ. Chính Chúa Giêsu ăn mừng (fêter) chiến thắng của chúng ta. Ngài đã vui mừng khi các môn đệ của Ngài từ từ tiến bộ trong việc rao giảng Tin Mừng, khi vượt qua những chướng ngại của Ác Thần, và Ngài reo vui: “Thầy thấy Satan như chớp từ trời sa xuống” (Lc 10, 18).

Hơn cả một thần thoại

160. Chúng ta sẽ không nhìn nhận sự hiện hữu của ma quỷ, nếu chúng ta cố nhìn cuộc sống với những tiêu chuẩn thực nghiệm và không có cảm thức siêu nhiên. Một cách chính xác, xác tín rằng quyền lực thần dữ hiện diện ở giữa chúng ta, chính là điều cho phép chúng ta hiểu tại sao sự dữ đôi khi lại có sức mạnh tàn phá đến như thế. Các tác giả Thánh Kinh quả là có một hành trang khái niệm giới hạn, để diễn tả một số thực tại và vào thời của Đức Giêsu, người ta đã có thể lẫn lộn, chẳng hạn, bệnh động kinh với sự việc bị quỷ ám. Tuy nhiên, điều này không được dẫn chúng ta đến việc đơn giản hóa quá đáng thực tại, bằng cách nói rằng, tất cả các trường hợp được tường thuật lại trong các sách Tin Mừng đều là những căn bệnh tâm thần và rốt cuộc cho rằng, không có ma quỷ hoặc ma quỷ không hoạt động. Sự hiện diện của nó được tìm thấy ngay trong trang đầu của Thánh Kinh, và trang này kết thúc với chiến thắng của Thiên Chúa trên ma quỷ [120]. Quả thật, khi dạy chúng ta Kinh Lạy Cha, Đức Giêsu đã yêu cầu chúng ta kết thúc bằng cách xin Chúa Cha giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ. Hạn từ được sử dụng ở đây không qui chiếu về sự dữ trừu tượng và phiên dịch chính xác phải là “Ác Thần” (le Malin). Nó ám chỉ một cá thể (être personnel) phá rối chúng ta. Đức Giêsu đã dạy chúng ta mỗi ngày cầu xin ơn giải thoát này, để quyền năng của nó không thống trị chúng ta.

161. Như vậy, chúng ta đừng nghĩ rằng ma quỉ là một huyền thoại, một hình dung, một biểu tượng, một hình ảnh hay một ý tưởng [121]. Sai lầm này sẽ dẫn chúng ta đến việc buông tay, nới lỏng chú ý và để mình bị lộ ra hơn. Ma quỷ không cần chiếm hữu chúng ta, nó đầu độc chúng ta bằng hận thù, buồn sầu, ham muốn, những thói xấu. Nó phá hoại cuộc đời của chúng ta, gia đình và cộng đoàn của chúng ta, khi chúng ta mất cảnh giác, vì nó rình mò “như sư tử gầm gừ, rảo quanh, tìm mồi cắn xé” (x. 1 Pr 5, 8).

Cảnh giác và tin tưởng

162. Lời Chúa mời gọi ta một cách rõ ràng “hãy chống lại những mưu chước của ma quỷ” (Ep 6,11) và dập tắt “mọi tên lửa của Ác Thần” (Ep 6, 16). Cho cuộc chiến đấu này, chúng ta có những khí giới mạnh mẽ Chúa ban cho chúng ta: đức tin được diễn tả trong cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, cử hành Thánh lễ, tôn thờ Thánh thể, bí tích Hòa giải, các việc bác ái, đời sống cộng đoàn, dấn thân thi hành sứ vụ. Nếu chúng ta lơ là, những hứa hẹn lừa đảo của sự dữ sẽ dễ dàng quyến rũ chúng ta, như thánh linh mục Brochero đã nói: “Có quan trọng gì việc Lucifer hứa hẹn giải phóng chúng ta và ngay cả phủ lấp chúng ta bằng những lợi ích của nó, nếu đó là những lợi ích giả dối, nếu đó là những lợi ích độc hại?” [122].

163. Trên con đường này, phát triển điều tốt lành, trưởng thành thiêng liêng và lớn lên trong tình yêu là những đối trọng tốt nhất chống lại sự dữ. Không ai chống lại được, nếu dừng lại ở điểm chết, nếu hài lòng với điều ít ỏi, nếu ngừng mơ ước dâng cho Chúa chính bản thâm mình cách quảng đại hơn. Tệ hơn nữa, nếu họ rơi vào tinh thần lụn bại, vì “ai khởi đầu mà không có niềm tin, thì đã thua trước một nửa trận chiến rồi, và vùi lấp những tài năng của mình […] chiến thắng thuộc đức tin Kitô luôn là một thập giá, nhưng là một thập giá vốn đồng thời cũng là ngọn cờ chiến thắng, mà chúng ta dương cao với sự hiền lành (tendresse) chiến đấu, chống lại những tấn công của sự dữ” [123].

Hư hỏng thiêng liêng

164. Con đường thánh thiện là nguồn của bình an và niềm vui, mà Thần Khí ban cho chúng ta, nhưng đồng thời Ngài cũng đòi hỏi chúng ta hiện hữu với “những ngọn đèn cháy sáng” (Lc 12, 35) và chúng ta phải chú ý: “Anh em hãy giữ mình khỏi mọi hình thức của sự dữ” (1Thes 5, 22). “Vậy, anh em hãy tỉnh thức” (Mt 24, 42; Mc 13, 35). “Chúng ta đừng mê ngủ” (1Thes 5, 6). Vì những ai nghĩ mình không có những lỗi nghiêm trọng chống lại Luật Thiên Chúa, có thể rơi vào tình trạng u mê hoặc mê ngủ. Vì chẳng thấy mình có gì nghiêm trọng đáng trách, nên họ không nhận ra sự nguội lạnh, dần dần xâm chiếm đời sống thiêng liêng của mình và họ rốt cuộc trở nên yếu nhược và hư hỏng.

Sự hư hỏng thiêng liêng thì tồi tệ hơn sự sa ngã của một tội nhân, vì đó là một sự mù quáng tiện nghi (confortable) và tự đủ, khi đó mọi sự cuối cùng dường như trở nên hợp lệ: lừa dối, vu khống, ích kỷ và những hình thức tinh vi khác của tính tự qui chiếu về bản thân (autoréférentialité), bởi vì “chính Satan giả dạng thành thiên thần ánh sáng” (2 Cr 11,14). Chính như thế mà vua Salômôn đã kết thúc những ngày của đời ông, khi mà vua Đavít “đại tội nhân” đã biết đưa mình ra khỏi cơn khốn khổ của mình. Trong một trình thuật, Đức Giêsu đã cảnh báo chúng ta chống lại sự cám dỗ lừa dối, làm cho chúng ta trôi dạt về phía sự hư đốn: Người nói về một người được giải thoát khỏi tay tên quỷ, rồi khi nghĩ rằng đời mình giờ đây đã tinh tuyền, lại kết thúc bởi trình trạng bị ám bởi bảy tên quỷ khác (xem Lc 11, 24-26). Một đoạn Thánh Kinh khác dùng một hình ảnh thật mạnh: “Con chó quay trở lại với đồ mửa của riêng nó” (2 Pr 2, 22; x. Cn 26, 11).

II. PHÂN ĐỊNH (DISCERNEMENT)

166. Làm thế nào để biết một điều đến từ Chúa Thánh Thần hay nó có nguồn gốc nơi tinh thần của thế gian hay nơi tinh thần của ma quỷ? Cách thức duy nhất, đó là phân định, vốn đòi hỏi không chỉ khả năng suy nghĩ hay lý lẽ thường tình. Đó cũng là một ân huệ phải nài xin. Nếu chúng ta xin Chúa Thánh Thần ơn huệ ấy với sự tin tưởng, và nếu chúng ta đồng thời nỗ lực phát triển ơn ấy nhờ cầu nguyện, suy nghĩ, đọc sách và lắng nghe những lời khuyên tốt lành, thì chắc chắn chúng ta sẽ lớn lên trong khả năng thiêng liêng này.

Một sự cần thiết cấp bách (nécessité impérieuse)

167. Ngày nay, khả năng phân định lại trở nên cần thiết cách đặc biệt. Thực vậy, đời sống hiện nay cung cấp vô vàn những khả thể hành động, giải trí và thế giới trình bày chúng như thể tất cả chúng đều có giá trị và tốt đẹp. Mọi người, nhưng đặc biệt là giới trẻ, bị đưa vào một nền văn hóa bấm nút chuyển kênh liên tục (zapping constant). Người ta có thể đồng thời lướt qua hai hoặc ba màn hình và tương tác đồng thời trên những nơi ảo khác nhau. Không có sự khôn ngoan phân định, chúng ta có thể dễ dàng biến thành những con rối, bị cuốn vào những xu hướng nhất thời.

168. Điều này đặc biệt quan trọng khi một sự mới mẻ xuất hiện trong đời sống của chúng ta, và khi lúc đó phải phân định xem đó có phải là rượu mới của Thiên Chúa hay đó là một thứ mới mẻ lừa dối của tinh thần thế tục hoặc của tinh thần ma quỷ. Trong những trường hợp khác, điều ngược lại có thể xảy ra, bởi vì các thế lực của sự dữ xui khiến chúng ta không thay đổi, cứ để yên mọi sự như chúng là, chọn lựa chủ nghĩa bất động hay sự cứng nhắc. Như thế, chúng ta ngăn chặn hơi thở của Chúa Thánh Thần hành động. Chúng ta được tự do, đến từ sự tự do của Đức Giêsu, nhưng Người mời gọi chúng ta kiểm tra những gì đang ở bên trong chúng ta – các ước muốn, lo âu, sợ hãi, những khao khát – và những gì xảy ra ở bên ngoài chúng ta – “các dấu chỉ của thời đại” – để nhận ra những nẻo đường của tự do tròn đầy. “Anh em hãy xem xét mọi sự; điều gì là tốt, anh em hãy giữ lại” (1 Tx 5, 21).

Luôn luôn dưới ánh sáng của Chúa

169. Sự phân định cần thiết không chỉ vào những thời điểm ngoại thường, hay khi chúng ta phải giải quyết các vấn đề nghiêm trọng hay khi phải đưa ra một quyết định đặc biệt quan trọng. Đó là một công cụ chiến đấu để đi theo Chúa tốt hơn. Chúng ta luôn luôn cần phân định, để sẵn sàng nhận biết những thời điểm của Thiên Chúa và ân sủng của Ngài, để không lãng phí những gợi hứng của Chúa, để không bỏ qua lời mời gọi lớn lên của Người. Thường thường điều này diễn ra trong những việc bé nhỏ, trong điều không đáng lưu tâm, bởi vì sự lớn lao được tỏ lộ trong điều đơn sơ và hàng ngày [124]. Vấn đề là đừng có những giới hạn cho điều là lớn lao, cho điều gì là tốt hơn và đẹp hơn, nhưng đồng thời cũng chú ý đến những gì bé nhỏ, đến việc cho đi chính mình hôm nay. Vì thế, tôi yêu cầu tất cả các Kitô hữu thực hiện mỗi ngày việc đối thoại với Chúa, Đấng yêu thương chúng ta và thực hiện việc « xét mình » chân thành. Đồng thời, sự phân định dẫn chúng ta đến việc nhận ra những phương tiện cụ thể mà Chúa an bài trong kế hoạch yêu thương nhiệm mầu của Người, để chúng ta không chỉ dừng lại ở những ý định tốt lành.

Một ơn huệ siêu nhiên

170. Đúng là sự phân định thiêng liêng không loại trừ những đóng góp của các hiểu biết về con người, cõi hiện sinh, tâm lý, xã hội hay luân lý. Nhưng nó vượt trên chúng. Cả những qui luật khôn ngoan của Hội Thánh cũng chưa đủ. Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng phân định là một ân sủng. Mặc dù nó bao hàm lý trí và sự cẩn trọng, nó vẫn vượt trên chúng, vì đó là việc đoán ra mầu nhiệm của kế hoạch duy nhất và không thể bắt chước, mà Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta, và mầu nhiệm này được thực hiện trong những bối cảnh và những giới hạn khác biệt nhất. Những gì được đặt cuộc trong phân định, không chỉ là một sự êm xuôi đời này (bien-être temporel), cũng không là sự hài lòng vì đã làm một điều gì hữu ích, hoặc cũng không là ước muốn có được một lương tâm thanh thản. Điều được hay mất trong phân định, là ý nghĩa của cuộc đời tôi trước mặt Chúa Cha, Đấng hiểu biết tôi và yêu thương tôi, là ý nghĩa thực sự của cuộc sống tôi, mà không ai biết rõ hơn Ngài. Hiểu ở mức độ tận cùng, phân định dẫn đến chính nguồn của sự sống không tan biến, nghĩa là, biết Chúa Cha, Thiên Chúa Chân Thật Duy Nhất, và Đấng mà Ngài đã sai đến, Đức Giêsu-Kitô (x. Ga 17, 3). Phân định không đòi hỏi những khả năng đặc biệt, cũng không chỉ dành cho những người thông minh hơn hoặc học thức hơn, và Chúa Cha tự nguyện tỏ mình ra cho những người bé nhỏ (x. Mt 11, 25).

171. Cả khi Chúa nói với chúng ta bằng nhiều cách khác nhau, trong công việc, qua người khác và ở mọi lúc, thì chúng ta cũng không thể bỏ qua sự thinh lặng của cầu nguyện thật chú tâm, để nhận ra tốt hơn ngôn ngữ của Thiên Chúa, để giải thích ý nghĩa thực sự của những soi sáng mà chúng ta xác tín mình nhận được, để xoa dịu những lo âu và để tái cấu tạo toàn thể cuộc sống của mình dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Như thế, chúng ta có thể làm phát sinh một tổng hợp mới mẻ, trào vọt ra từ sự sống được khai sáng bởi Chúa Thánh Thần.

Lạy Chúa, xin hãy nói

172. Tuy nhiên, có thể xẩy ra là, ngay trong cầu nguyện, chúng ta né tránh việc để cho mình bị chất vấn bởi sự tự do của Chúa Thánh Thần, Đấng hành động như Ngài muốn. Chúng ta phải nhớ rằng, phân định cầu nguyện (discernement priant) phải tìm thấy nguồn của nó nơi sự sẵn sàng lắng nghe Chúa, lắng nghe người khác, lắng nghe chính thực tại, vốn luôn chất vấn chúng ta một cách mới mẻ. Chỉ có ai sẵn sàng lắng nghe, mới có được sự tự do để từ bỏ quan điểm phiến diện hay không đầy đủ của riêng của mình, từ bỏ những thói quen của mình, những sơ đồ của mình (schémas). Làm như thế, người này sẵn sàng để đón nhận tiếng gọi, tiếng gọi phá vỡ những an toàn của mình, nhưng lại dẫn đến một sự sống tuyệt hảo hơn, vì vẫn chưa đủ khi mọi sự đều xuôi chảy, mọi sự đều êm ả. Thiên Chúa có thể đang ban cho chúng ta điều gì đó hơn nữa, và vì sự thoải mái của chúng ta trong tiện nghi, chúng ta không để tâm.

173. Một thái độ lắng nghe như thế, chắc chắn bao hàm sự vâng phục đối với Tin Mừng như là tiêu chuẩn tối hậu, nhưng cũng vâng phục đối với Huấn Quyền, vốn gìn giữ Tin Mừng bằng cách tìm ra trong kho tàng của Hội Thánh điều phong nhiêu nhất cho thời điểm hôm nay của ơn cứu độ. Vấn đề không phải là áp dụng các công thức, cũng không phải là lặp lại quá khứ, bởi vì cùng những giải pháp không có giá trị trong mọi tình huống, và điều hữu ích trong một bối cảnh có thể không hữu ích trong một bối cảnh khác. Sự phân định các thần loại giải thoát chúng ta khỏi sự cứng nhắc, vốn không là điều không có chỗ đứng trước “ngày hôm nay vĩnh cửu” của Đấng Phục Sinh. Chỉ có Thần Khí mới biết thấm nhập vào những nếp gấp mịt mờ nhất của thực tại và để ý đến tất cả mọi sắc thái của thực tại, để cho, vào một ngày mới, tính sự mới mẻ của Tin Mừng trồi hiện lên.

Luận lý (logique) của ơn huệ và của Thập Giá

174. Một điều kiện thiết yếu cho sự tiến bộ trong việc phân định, đó là tự giáo dục mình cho sự kiên nhẫn của Thiên Chúa và cho các thời điểm của Ngài, vốn không bao giờ là những thời điểm của chúng ta. Thiên Chúa không làm cho lửa ào xuống thiêu đốt những kẻ ngoại đạo (xem Lc 9, 54), cũng không cho phép “nhổ cỏ lùng” đang mọc lên cùng với lúa mì (x. Mt 13, 29). Cũng cần có lòng quảng đại, vì “cho đi thì hạnh phúc hơn là tiếp nhận” (Cv 20, 35). Chúng ta không phân định để khám phá ra điều chúng ta có thể rút ra được hơn nữa từ cuộc sống này, nhưng để nhận biết làm sao chúng ta có thể hoàn tất tốt hơn sứ mạng được ủy thác cho chúng ta trong Phép Rửa, và điều đó bao hàm việc chúng ta phải sẵn sàng cho những từ bỏ, đến mức cho đi mọi sự. Thực vậy, hạnh phúc thì nghịch lý, và hạnh phúc mang lại cho chúng ta những kinh nghiệm tốt nhất khi chúng ta chấp nhận luận lý nhiệm mầu, vốn không thuộc về thế gian. Như Thánh Bonaventura đã xác quyết điều này, khi nói về thập giá: “Đây là luận lý của chúng ta” [125]. Nếu có ai đi vào trong năng động này, khi đó người này sẽ không để cho lương tâm của mình bị tê liệt và sẽ mở lòng ra cách quảng đại cho phân định.

175. Khi chúng ta dò dẫm trước nhan Thiên Chúa những con đường của cuộc sống, thì sẽ không có những phạm vi bị loại trừ. Trên mọi bình diện của cuộc sống, chúng ta có thể tiếp tục lớn lên và dâng hiến điều gì đó hơn nữa cho Thiên Chúa, bao gồm cả những bình diện mà ở đó chúng ta có kinh nghiệm về những khó khăn lớn lao nhất. Nhưng, cần phải xin Chúa Thánh Thần giải thoát chúng ta và xua đuổi sự sợ hãi, vốn đưa chúng ta đến chỗ ngăn cấm Ngài đi vào trong một số lãnh vực thuộc đời sống của chúng ta. Ngài là Đấng đòi hỏi mọi sự, nhưng cũng trao ban mọi sự, và Ngài không muốn đi vào trong chúng ta để làm tàn tật hay làm suy yếu, nhưng để mang vác chúng ta đến sự tròn đầy. Điều này cho chúng ta thấy rằng, phân định không phải là một thứ tự-phân tích duy ngã (auto-analyse intimiste), hay nội quan quy ngã (introspection égoïste), nhưng là một tiến trình đi ra đích thực khỏi chính mình, hướng về mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng giúp chúng ta sống sứ mạng, mà Ngài đã mời gọi chúng ta, vì điều thiện hảo của anh chị em chúng ta.

(176-177)

Ban hành tại Rôma, ở Đền Thánh Phêrô,
vào ngày 19 tháng 3, Lễ trọng kính Thánh Giuse, năm 2018,
là năm thứ sáu của triều đại của tôi.
ĐTC Phanxicô

(Giuse Nguyễn Văn Lộc chuyển ngữ
từ bản Tiếng Pháp)

——————-

[120] X. “Bài giảng trong Thánh Lễ ở Nhà Santa Marta” (11/10/2013): L’Osservatore Romano, ấn bản Tiếng Pháp (17/10/2013), tr. 7.

[121] X. PHAOLÔ VI, Bài Giáo Lý (15/11/1972): Insegnamenti X (1972), tr. 1168-1170: “Một trong những nhu cầu chính yếu nhất của chúng ta là phòng thủ chống lại sự dữ mà chúng ta gọi là Quĩ Dữ […] Sự dữ không đơn thuần là một sự khiếm khuyết nhưng là một năng lực, một hữu thể đang sống và thuộc bình diện tinh thần, bị hư hỏng và làm cho người khác ra hư hỏng. Một thực tế khủng khiếp, bí nhiệm và đáng sợ. Ai từ chối nhìn nhận nó đang hiện hữu, thì người này đi ra khỏi giáo huấn của Kinh Thánh và của Giáo Hội; hoặc ai biến nó thành một nguyên lý tự đứng vững bởi chính nó, không hề có nguồn gốc nơi Thiên Chúa, như mọi thụ tạo; hoặc ai giải thích nó như một ngụy thực tại, một nhân cách hoá thuộc bình diện khái niệm và số phận, những nguyên nhân không được biết về những khiếm khuyết của chúng ta”.

[122] JOSÉ GABRIEL DEL ROSARIO BROCHERO, Plática de las banderas, in CONFERENCIA EPISCOPAL ARGENTINA, El Cura Brochero. Cartas y sermones, Buenos Aires 1999, tr. 71.

[123] Tông Huấn Evangelii Gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 85: AAS 105 (2013), tr. 1056.

[124] Trên mộ phần của Thánh Ignatiô Loyola, có khắc hàng chữ đầy ý nghĩa: Non coerceri a maximo, conteneri tamen a minimo divinum est (“Điều là thần linh, thì không sợ những điều lớn lao, đồng thời lưu ý đến những điều nhỏ bé nhất”).

[125] Collationes in Hexaemeron, 1, 30.

https://docs.google.com/document/d/1ycUoClOc24P4rUxeoboZpWRbM3j1-0mDDXgDyGB686E/edit

Tin Mừng của Đức Giê-su Kito theo thánh Marco

Ngày 28 tháng 01 năm 2019
Thứ hai, Tuần III Mùa Thường Niên

“Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được?”

(Mc 3, 22-30)

22 Còn các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống thì lại nói rằng Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám và Người dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.24 Người liền gọi họ đến, dùng dụ ngôn mà nói với họ: “Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được? Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền;25 nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững.26 Vậy Xa-tan mà chống Xa-tan, Xa-tan mà tự chia rẽ, thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số.27 Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó.28 “Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha.29 Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời”.30 Đó là vì họ đã nói “ông ấy bị thần ô uế ám.”

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

1. “Người dựa thế quỷ vương”?

Bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay khởi đầu và kết thúc với lời nói của các kinh sư, cho rằng Đức Giê-su bị Quỉ Vương Bê-en-dê-bun ám:

Còn các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống thì lại nói rằng Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám.

(c. 22)

Đó là vì họ đã nói:
“ông ấy bị thần ô uế ám”.

(c. 30)

Ở phần trung tâm của bài Tin Mừng (c. 23-29), đó là lời của Đức Giê-su. Trước hết, bằng “ngôn ngữ dụ ngôn”, Người mời gọi các kinh sư hãy học biết “phân định thiêng liêng”, nghĩa là phân biệt những gì thuộc về Thiên Chúa, nguồn của sự sống, ánh sáng và sự thiện và những gì thuộc về Satan, đó là sự chết, bóng tối và sự dữ (c. 23-27).

Sau cùng, Người mặc khải bản chất tội lỗi ở mức độ tuyệt đối, được hàm chứa trong lời nói đồng hóa Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa với “Quỉ Vương” (c. 28-29).

2. “Nước nào… nhà nào”

Đức Giê-su bắt đầu bằng cách dùng những hình ảnh “một nước” và “một nhà”, để cho thấy nhận định của họ không phù hợp qui luật của hiện hữu: ở mức độ cá thể hay tập thể, điều gì đã hiện hữu thì tự bản chất nó muốn hiện hữu dài lâu và nếu có thể hiện hữu mãi mãi; và để hiện hữu, hữu thể không thể tự chia rẽ, vì như thế sẽ dẫn đến hậu quả tự hủy diệt chính mình. Chính vì thế, ma quỉ (tiếng Hi-lạp là diabolos; tiếp đầu ngữ dia có nghĩa là chia rẽ), nghĩa là “Kẻ Tố Cáo” thường gieo rắc nộc độc chia rẽ bằng hành vi tố cáo, để hủy diệt sự sống của con người. Những người tự biến mình thành tay sai của Satan, hay bị Satan chi phối mà không ý thức, cũng hành động như thế.

Sau đó, ngang một dụ ngôn thật nhỏ, nhưng rất “xấu” (tương tự như dụ ngôn người quản lí bất lương): “Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó” (c. 27), Đức Giê-su mời gọi người nghe nhận ra một mầu nhiệm thật lớn và thật đẹp, đó là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta (x. Mt 12, 28 và Lc 11, 20).

Triều Đại Thiên Chúa đã đến ngang qua lời nói, hành động và chính ngôi vị của Đức Giê-su, vì nếu Satan bị đẩy lùi và bị trừ khử, thì chỉ có thể là Thiên Chúa mà thôi, chỉ có thể là “Thần Khí của Thiên Chúa” (Mt 12, 28), chỉ có thể là “ngón tay của Thiên Chúa (Lc 11, 20). Hơn nữa, theo các Tin Mừng Nhất Lãm, ngôn ngữ dụ ngôn được Đức Giê-su ưu tiên dùng để nói về Nước Thiên Chúa, đến độ “dụ ngôn Tin Mừng” tự nó có nghĩa là Nước Thiên Chúa, và Đức Giê-su chính là một “Dụ Ngôn” nói cho chúng ta một cách hoàn hảo về Thiên Chúa và về Triều Đại của Người.

3. Phạm đến Thánh Thần

Sau đó, Đức Giê-su mặc khải tính nghiêm trọng tuyệt đối (nghĩa là không thể tha thứ) của tội nói phạm đến Thánh Thần. Cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều kể lại lời của Đức Giê-su, nói về điều này (Mt 12, 31-32; Lc 12, 10), nhưng Tin Mừng theo thánh Mác-cô xác định rõ nhất lí do tại sao: “Đó là vì họ đã nói ông ấy bị thần ô uế ám”.

Nơi Đức Giê-su, Thánh Thần hiện diện cách trọn vẹn (x. Mc 1, 12), vì Người là Con Thiên Chúa. Do đó, lời nói cho rằng Đức Giê-su bị ám bởi Quỉ Vương, ẩn chứa tội phạm đến Thánh Thần, mà chính người nói cũng không biết, như lời Tv 19 diễn tả: “Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay” (Tv 19, 23); và chính Đức Giê-su mặc khải trong cuộc Thương Khó: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Bởi lẽ ai có thể nói phạm đến Đấng tuyệt đối, ngoài một “tuyệt đối” khác, đúng hơn một “cực điểm” khác là Satan? Tương tự như trong mầu nhiệm Thương Khó, tương ứng với khuôn mặt của Sự Thiện tuyệt đối, rạng ngời nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh, chính là Sự Dữ, bị buộc phải lộ ra nguyên hình, khởi đi từ hành động của những con người cụ thể.

*  * *

Như thế, lời của Đức Giê-su về tội phạm đến Thánh Thần vừa làm cho chúng ta bình an và vừa chất vấn chúng ta: Tôi không thể phạm đến Thánh Thần được, nhưng tôi có thể để cho Sự Dữ hoạt động ở trong tôi, nói ở trong tôi, làm xúc phạm đến Thánh Thần. Chỉ có Đức Giê-su, Đấng tràn đầy Thánh Thần, Lời và Mình Máu Thánh của Người, mới giải thoát tôi khỏi Sự Dữ và tái sinh tôi trong Thánh Thần của Người mà thôi.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc Sj

Tin Mừng Đức Giê-su Kitô theo thánh Luca


Ngày 27 tháng 01 năm 2019
Chúa Nhật III Thường Niên – Năm C

“Hôm nay đã ứng nghiệm
lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”

(Lc 1, 1-4; 4, 14-21)

1 Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta.2 Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta.3 Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài,4 mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc.*  * *14 Khi ấy, được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận.15 Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh. 16 Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh.17 Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:18 Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,19 công bố một năm hồng ân của Chúa.20 Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.21 Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.”

(Bản dịch của Nhóm CGKVP)

1. “Giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc”

Trong mùa Phụng Vụ Thường Niên, năm C, trong các ngày Chúa Nhật, kể từ Chúa Nhật III hôm nay cho đến Chúa Nhật XXXIV, Giáo Hội cho chúng ta nghe Lời Chúa trong sách Tin Mừng theo thánh Luca. Chính vì thế, bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay bắt đầu bằng những câu đầu tiên của sách Tin Mừng.

Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người
đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc
đã được thực hiện giữa chúng ta…

(Lc 1, 1-4)

Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là, khi nghe những dòng đầu tiên, mà người ta thường gọi là “Lời Tựa” (Lc 1, 1-4), giới thiệu bối cảnh, người nhận và nội dung, Giáo Hội không cho chúng ta nghe trình thuật nào khác, chẳng hạn trình thuật truyền tin cho ông Dacaria hay trình thuật truyền tin cho Đức Maria (1, 5-38), nhưng cho chúng ta nghe trình thuật kể về biến cố Đức Giê-su đọc Sách Thánh trong hội đường và công bố:

Hôm nay đã ứng nghiệm
lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.

(Lc 5, 21)

Đúng là Mùa Vọng đã qua rồi và chúng ta đang ở trong Mùa Thường Niên; nhưng tại sao bài Tin Mừng hôm nay lại khởi đi từ những câu đầu tiên của sách Tin Mừng theo thánh Luca, thay vì bỏ qua? Và tại sao với bài Tin Mừng hôm nay, biến cố Đức Giê-su trở về Nadaret, được kết nối với “lời tựa”, chứ không phải biến cố nào khác, chẳng hạn biến cố Đức Giê-su chịu cám dỗ (x. Lc 4, 1-13)?

Khi kết nối lời tựa của sách Tin Mừng theo thánh Luca với biến cố Đức Giê-su đọc Sách Thánh và công bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”, chắc chắn Giáo Hội muốn chúng ta hiểu rằng, đó chính là sứ điệp nền tảng và sâu xa mà thánh sử Luca muốn kể lại cho ông Thê-ô-phi-lô, và toàn bộ nội dung được kể lại trong sách Tin Mừng, phải được hiểu dưới ánh sáng của sứ điệp này. Chính theo nghĩa này mà, thánh sử viết cho vị độc giả và cho độc giả thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay, với niềm xác tín thiết thân: “Giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc”.

Thực vậy, Tin Mừng theo thánh Luca sẽ kết thúc với trình thuật Đức Ki-tô phục sinh “mở trí” cho các môn đệ hiểu toàn bộ Kinh Thánh được ứng nghiệm nơi ngôi vị và mầu nhiệm Vượt Qua của Người

Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

(Lc 24, 27)

Rồi Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm.

(Lc 24, 44)

Như thế, nội dung Tin Mừng không phải là những kiến thức lịch sử, nhưng là lời chứng khởi đi từ một kinh nghiệm đích thân gặp gỡ Đức Ki-tô, một kinh nghiệm làm cho con tim bừng cháy (x. Lc 24, 32) và làm cho hoan hỉ tâm hồn (c. 52).

2. Lời của Đức Giê-su

Trong bài Tin Mừng đầu tiên theo thánh sử Luca trong Mùa Phụng Vụ năm nay, “thời điểm” đầu tiên mà Giáo Hội mời gọi chúng ta ghi nhớ, đó là “khi ấy”:

Khi ấy,
được quyền năng Thần Khí thúc đẩy.

(c. 14)

“Khi ấy” là khi Ngài vượt qua những đợt cám dỗ của ma quỉ, sau bốn mươi ngày ăn chay cầu nguyện trong sa mạc. Chúng ta có thể gọi là “thử thách”, thay vì “cám dỗ”, vì liên quan đến lòng tin nơi Thiên Chúa, thay vì là vấn đề luân lí hay giới tính. Thực vậy, lời sau cùng Ngài nói với ma quỉ, là lời liên quan đến lòng tin: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi” (c. 12). Trong trường hợp này, “thử thách” mang ý nghĩa “không tin”; không tin, nên thử cho biết!

Chúng ta cũng được mời gọi vượt qua những thử thách liên quan đến lòng tin, vượt qua thái độ quên ơn, vốn dẫn đến thái độ không tin, nghĩa là nghi ngờ Thiên Chúa và làm phát sinh lòng ham muốn và thái độ ghen tị. Như thánh Gioan nói: “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1Ga 4, 4). Và chính khi ấy, cũng như Đức Giê-su, chúng ta sẽ được tràn đầy Thần Khí của Thiên Chúa.

Và chỉ khi Ngài tràn đầy Thần Khí, Đức Giê-su mới bắt đầu giảng dạy và được mọi người tôn vinh. Chúng ta hãy ngạc nhiên về điều này: Đức Giê-su vẫn chưa làm phép lạ nào, chưa làm điều gì lạ thường, Ngài mới chỉ nói thôi; và lời của Ngài đánh động người nghe đến độ ngài được mọi người tôn vinh:

Mọi người đều tán thành và thán phục
những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.

(c. 22)

Ước gì chúng ta cũng biết tôn vinh và ca tụng Chúa, khi lắng nghe Lời của Ngài trong cầu nguyện. Và nhất là, từ rày về sau, chúng ta không thể sống, nếu không, có thể nói, “ăn” lời của Ngài. Bởi vì, sự sống của chúng ta không chỉ cần của ăn và các phương tiện đáp ứng nhu cầu, nhưng còn cần lời nói nữa, lời nói yêu thương, soi sáng, tha thứ, đón nhận, cảm thông, bao dung. Thiếu những lời này, chúng ta không thể sống được. Và Lời Chúa là những lời như thế và làm cho chúng ta nói được với nhau những lời như thế.

3. Kinh Thánh được hoàn tất

Nhưng Đức Giê-su đã giảng dạy điều gì? Cả bốn Tin Mừng sẽ kể lại cho chúng ta Lời hằng sống, thông truyền sự sống và trao ban sự sống “đến cùng” của Người; nhưng ngay từ đầu, thánh sử Luca đã mời gọi chúng ta nhận ra rằng, Lời này thiết yếu không phải là một giáo thuyết, nhưng là Ngôi Vị sống động có liên quan mật thiết với thân phận con người, nghĩa là với từng người chúng ta:

Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”… Và Người nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe”.

(c. 17-21)

Những gì vị Ngôn Sứ loan báo, sẽ được Đức Giê-su thực hiện một cách cụ thể ngang qua các dấu lạ, nhất là các dấu lạ chữa lành. Tuy nhiên, các dấu lạ, và không chỉ các dấu lạ, nhưng còn là toàn bộ lời nói và trọn vẹn cuộc đời của Đức Giê-su đều hướng về mầu nhiệm Vượt Qua, nơi đó không chỉ lời này của vị Ngôn Sứ được ứng nghiệm, nhưng là toàn bộ Kinh Thánh (x. Lc 24, 44).

Thực vậy, ý định muốn giết Đức Giê-su và Ngài “vượt qua” giữa họ mà đi (c. 28-30) mời gọi chúng ta hiểu biến cố hạn hẹp ở Nazareth ở mức độ mầu nhiệm Vượt Qua. Vì thế, lời ngôn sứ được ứng nghiệm hướng tới và phải được hiểu ở mức độ toàn bộ Kinh Thánh: toàn bộ Kinh Thánh loan báo Đức Ki-tô Vượt Qua và Đức Ki-tô Vượt Qua hoàn tất toàn bộ Kinh Thánh (x. Lc 24, 44). Lời Kinh Thánh lại kể lại lịch sử của những con người cụ thể giống như mỗi người chúng ta, đầy những thăng trầm, lầm lỗi và bị Sự Dữ chi phối; như lời ngôn sứ Isaia cho thấy, đó những nỗi khốn cùng của số phận con người thuộc mọi thời: nghèo hèn, bị giam cầm, bị mù lòa, bị mất tự do… Như thế, cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng “loan báo” hay đúng hơn “phác họa” chân dung Đức Ki-tô và Đức Ki-tô cũng đã “mang lấy” và làm cho “hoàn tất” cuộc đời của mỗi người chúng ta. Chính sự tương hợp này đã đem lại kinh nghiệm thiêng liêng: “con tim bừng cháy” cho hai môn đệ Emmau (Lc 24, 22) và cho chúng ta hôm nay.

Lời Kinh Thánh được ứng nghiệm trọn vẹn nơi mầu nhiệm Vượt Qua, nhưng cách thức “ứng nghiệm” thật là lạ lùng, vì không theo cách của con người, nhưng theo cách của Thiên Chúa, bởi vì nơi mầu nhiệm Vượt Qua, một cách “trọn vẹn” Đức Ki-tô trở nên người nghèo hèn, để cho mình bị bắt, bị giam cầm, bị áp bức, để cho mình bị nát tan vì nhục hình và cuối cùng để cho mình bị giết chết.

Nhưng Thiên Chúa lại mạnh hơn sự chết, sự chết gây ra bởi Sự Dữ và như thế, cả sự chết đến từ thân phận con người. Đó, chính là Tin Mừng về “Năm Hồng Ân” được thực hiện trọn vẹn nơi mầu nhiệm Vượt Qua.

*  * *

Hôm nay, Đức Giê-su nói, đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Như thế, không phải là ngày mai hay đời sau, nhưng Người mời gọi chúng ta ngay “hôm nay” đón nhận ơn chữa lành bởi Lời và sự sống của Ngài, chữa lành sự sống của chúng ta khỏi sự dữ và sự chết và tất cả những gì liên quan đến sự dữ và sự chết, để được sống và sống dồi dào ngay “hôm nay”.

Lời Kinh Thánh được ứng nghiệm phải là một kinh nghiệm thiết thân như thế đó.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc Sj

https://docs.google.com/document/d/11c7P4aNfNYJwtAqWRrfV_T_P7iunjIUsFG_-9726jqY/edit


Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Marcô 3, 20-21

Ngày 26 tháng 01 năm 2019
Thứ bảy, Tuần II Mùa Thường Niên

Điên rồ và sỉ nhục”
hay
“khôn ngoan và sức mạnh”?

(Mc 3, 20-21)

20 Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được.21 Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

1. Người ta kéo đến

Sau khi Đức Giê-su “lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3, 14-15), Người trở về nhà và có ba nhóm người kéo đến:

  • Trước hết là đám đông: “Đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được” (c. 20)
  • Sau đó, có thân nhân của Người: “Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí” (c. 21)
  • Ngoài ra, còn có các kinh sư: “Còn các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống thì lại nói rằng Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám và Người dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ” (c. 22; bài Tin Mừng của thứ hai, sau Chúa Nhật III Thường Niên)

Với những gì bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô của Thánh Lễ hôm nay kể lại, chúng ta được mời gọi chú ý đến nhiều nhóm người khác nhau kéo đến với Người, cũng như chiêm ngắm cung cách, lời nói và việc làm của Đức Giê-su dành cho họ.

2. Phục vụ cho sự sống

Đám đông kéo đến với Đức Giê-su, vì nghe biết những gì Người đã làm: Người đã chữa lành người bại tay trong hội đường vào ngày sa-bát (Mc 3, 1-6); sau đó, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân khác (c. 10); Người trừ quỉ và thiết lập Nhóm Mười Hai, để “các ông ở với Người và để sai các ông đi rao giảng với quyền trừ quỉ” (c. 11 và c. 14-15).

Đám đông kéo đến, khi Người trở về nhà. Mặc dù thánh sử Mác-cô không kể ra những gì Đức Giê-su làm cho họ, nhưng chúng ta có thể đoán ra rằng: Người tiếp tục chữa lành các bệnh nhân và giải thoát những người bị quỉ ám. Chính vì thế mà Người và các môn đệ không có giờ để ăn uống và bị người thân và các kinh sư phản ứng.

Để hiểu phản ứng của họ, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Đức Giê-su phục vụ cho sự sống của con người, và Người phục vụ ở cả hai chiều kích của sự sống: chiều kích thể lý (chữa lành bệnh tật) và chiều kích tương quan (giải thoát con người khỏi sự thống trị của ma quỉ). Chúng ta thường bị ấn tượng và ưa thích những phép lạ chữa bệnh, vì bệnh tật làm cho con người khốn khổ. Tuy nhiên, bệnh tật lại thuộc về thân phận con người, đã là người thì phải trải qua, không tránh được: sinh lão bệnh tử. Nhưng sự sống của con người còn bị quấy phá, bị chi phối bởi ma quỉ, bởi thần dữ; và tình trạng này mới là bi đát, trong mức độ ma quỉ gieo vào lòng con người và vào tương quan giữa người với người sự nghi ngờ, loại trừ, bạo lực, ham muốn, ghen tị, dục vọng… Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, những sự dữ này còn phá hoại sự sống của chúng ta hơn cả bệnh tật.

Tuy nhiên, nghe nói hay chứng kiến những gì Đức Giê-su thực hiện như thế, người ta không có cùng một cái nhìn.

3. “Người đã mất trí”!

Thực vậy, Đức Giê-su phục vụ cho sự sống của con người bằng hành động chữa bệnh và trừ quỉ. Nhưng tại sao người thân của Người lại cho rằng Người mất trí và muốn bắt Người về?

Đó là vì Người không trở nên điều mà họ mong chờ: trở nên luật sĩ hay kinh sư thay vì ngôn sứ loan báo Lời Thiên Chúa; vì Người không đi con đường họ muốn: dành và nắm quyền bính thay vì phục vụ, như sau này chính ông Phê-rô, đứng đầu Nhóm Mười Hai, cũng sẽ không chấp nhận con đường phục vụ đến cùng của Người (x. Mc 8, 32); hay đơn giản là vì Người đã không ưu tiên phục vụ cho họ (x. Lc 4, 23). Vì thế họ muốn “bắt Người” để gây áp lực, thậm chí làm chủ, sử dụng và buộc người làm theo ý họ.

Nhưng “người thân của Người” là ai? Hiển nhiên là anh chị em họ hàng hay làng xóm của Người (x. Mc 3, 31). Nhưng, chúng ta có thể hiểu theo nghĩa rộng, là loài người chúng ta và từng người chúng ta, như thánh sử Gioan nói: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 11). Loài người và chúng ta hôm nay nữa ở mức độ nào đó, cũng không hiểu biết, yêu mến và đón nhận Người.

Vì thế, những gì xẩy ra ở đây, tại quê hương và trong “nhà của Người” đã loan báo tầm mức phổ quát của mầu nhiệm Thập Giá rồi: Thập Giá dưới mắt loài người là “điên rồ và sỉ nhục”, nhưng với những ai được tuyển chọn, đó lại là “sức mạnh và khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1Cr 1, 22-14), bởi vì đó là lúc Người bày tỏ “chân dung rạng ngời” của Thiên Chúa Cha, qua việc phục vụ cho sự sống của loài người chúng ta đến cùng và triệt để nhất; đó là mang lại cho chúng ta sự sống của Thiên Chúa, không chỉ ở đời sau, nhưng ngay hôm nay, khi giải thoát sự sống của chúng ta khỏi Sự Dữ và những gì liên quan đến Sự Dữ. Bởi lẽ, chỉ có Lời Chúa, và tuyệt đỉnh là “Lời Thập Giá” (1Cr 1, 18) mới có thể chữa lành, giải thoát chúng ta khỏi Sự Dữ và những gì thuộc về Sự Dữ.

*  * *

Tuy nhiên, Đức Giê-su còn có một “Người Thân” khác nữa, đó là Đức Maria, Mẹ của Người. Mẹ của Người cũng sẽ đi tìm Người (x. Mc 3, 31-35; là bài Tin Mừng của thứ ba tuần tới, sau Chúa Nhật III Thường Niên), nhưng không phải để bắt Người, nhưng để đi theo Người cách khiêm tốn như người môn đệ, và nhất là để trở thành người thân đích thật của Người, qua việc chăm chú lắng nghe và sống Lời Thiên Chúa, để nhận ra “sức mạnh và khôn ngoan” của mầu mhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô (x. 1Cr 1, 22-14), và trở thành Người Mẹ trong Gia Đình Mới của Người.

Xin cho chúng ta lắng nghe, yêu mến, đón nhận và đi theo Đức Giê-su đến cùng, đến tận chân Thập Giá, như Đức Maria, Mẹ của Người và cũng là Mẹ của chúng ta.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

https://docs.google.com/document/d/1kt8UlKBr-fYpKN3K-UumhUutieSf5jJ5N91PjQ5KOOE/edit

« Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói » (Lc 10, 1-9)

Ngày 26 tháng 01 năm 2019
Lễ nhớ hai thánh Ti-tô và Ti-mô-thê, giám mục

« Thầy sai anh em đi
như chiên con đi vào giữa bầy sói »

(Lc 10, 1-9)

1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2 Người bảo các ông:3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này! “6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

Hôm nay, hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, chúng ta cử hành Thánh Lễ kính nhớ hai thánh Giám Mục, môn đệ của thánh Phao-lô Tông Đồ, đó là hai thánh Ti-tô và Ti-mô-thê. Xin Chúa cũng thương ban cho tất cả chúng ta ơn hiểu biết và yêu mến Đức Ki-tô, để có thể đi theo Người và loan báo Tin Mừng của Người đến cùng, như các thánh chúng ta mừng kính hôm nay.

Lời Chúa trong bài Tin Mừng mời gọi chúng ta nhận ra ba đặc điểm thuộc về sứ mạng loan báo Tin Mừng, và để con tim của chúng ta được chinh phục, nghĩa là được ơn hiểu biết sâu sa, có lòng ước ao và quảng đại dấn thân thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng trong hành trình đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi.

1. Sứ mạng phục vụ cho sự sống

Sẽ thật là ấn tượng và rất có ý nghĩa, khi chúng ta hình dung ra một nhóm rất đông gồm bảy mươi hai môn đệ, được Đức Giê-su đích thân chỉ định, sai đi từng hai người một. Hình ảnh bảy mươi hai môn đệ nói cho chúng ta về sự phong phú của đời tu hôm nay, nam cũng như nữ, trong Giáo Hội và nhất là tại Giáo Hội Việt Nam, và về chính chúng ta nữa, hay những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta đang ở trong Năm Đời Sống Thánh Hiến. Vì thế, chúng ta hãy xin Chúa ban cho tất cả chúng ta và cách đặc biệt cho tất cả những người đang tìm hiểu và sống ơn gọi dâng hiến, niềm xác tín này : đó là được Chúa đích thân tuyển chọn và sai đi, cho dù trong thực tế đã diễn ra như thế nào.

Và sứ mạng của các môn đệ là chuẩn bị cho Chúa đến một cách đích thân : « Người sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến ». Nói cách khác, cánh đồng và sứ mạng là của Chúa, chúng ta không phải chủ, nhưng là nữ tì, là tôi tớ, là « ơn huệ », Chúa ban cho cánh đồng nhờ lời cầu nguyện của Giáo Hội, của rất nhiều người, nhất là của những người thân yêu. Và lời loan báo : « Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần », gắn liền với hoạt động chữa những người đau yếu :

Hãy chữa những người đau yếu trong thành,
và nói với họ:
“Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”

(c. 9)

Đức Giê-su cũng đã làm như thế khi loan báo Nước Trời. Như thế, các môn được mời gọi làm cùng một điều như Đức Giê-su đã làm, khi được chọn và sai đi, đó là hoạt động phục vụ cho sự sống : chữa bệnh liên quan đến sự sống ở mức độ căn bản nhất là sức khỏe, nhưng sự sống của con người không chỉ là sức khỏe, nhưng còn là và nhất là được đón nhận, được đồng hành, được tôn trọng, được yêu thương, được lắng nghe, được hòa giải với bản thân và với nhau, được cảm thông, được bao dung tha thứ, được chữa lành những vết thương trong tâm hồn.

2. « Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói »

Giống như Đức Giê-su, Đấng chọn và sai chúng ta đi, chính khi chúng ta thi hành sứ mạng phục vụ cho sự sống, chúng ta đánh liều chính sự sống của mình : « Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói ». Chiên con, chứ không phải chiên mẹ hay chiên bố, ở giữa bầy sói, thì chắc chắn là « chết » ! Bởi vì chính Đức Giê-su là « Chiên Con », như chúng ta tung hô nhiều lần trong Thánh Lễ : « Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian… »

Tuy nhiên, hình ảnh chiên và sói lại diễn tả cách tuyệt vời sự tương phản giữa sự hiền lành của Thiên Chúa và tính bạo lực của sự dữ. Giống như Đức Ki-tô, chúng ta được mời gọi chiến thắng bạo lực của sự dữ, không phải bằng bạo lực, nhưng bằng lời tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa, bằng cách phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa, bằng chính sự dịu hiền của Thiên Chúa :

Chúa cho miệng con thơ trẻ nhỏ,
cất tiếng ngợi khen chống lại địch thù,
khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan.

(Tv 8, 3)

Bởi vì nếu chúng ta sử dụng cùng một phương tiện bạo lực, mà sự dữ dùng, để chống lại sự dữ, thì chúng ta sẽ không khác gì sự dữ, và nhất là vì chúng ta sẽ rất mau bị cuốn vào xoáy của sự dữ. Thật vậy, khi người ta dùng gươm dao súng ống để chống lại kẻ xấu, không sớm thì muộn, người ta sẽ say mê gươm dao súng ống luôn. Chính vì thế, Đức Giê-su mời gọi chúng đừng chống lại kẻ dữ (x. Mt 5, 39).

Đánh liều sự sống, khi thi hành sứ mạng phục vụ sự sống. Điều này thật là thiệt thòi, thử thách và đau khổ. Nhưng đó lại là qui luật muôn đời của sự sống, được ghi khắc trong công trình sáng tạo và trong kinh nghiệm sống của loài người chúng ta : muốn phục vụ sự sống, muốn cho sự sống sinh sôi nẩy nở, phải cho đi chính sự sống của mình : đó là hạt lúa mì khi được gieo vào lòng đất, đó là người mẹ khi cưu mang và sinh con.

Đức Ki-tô đến để cho thế gian được sống, và sống dồi dào (x. Ga 10, 10), và Người đã không đi con đường nào khác, ngoài con đường của hạt lúa mì. Thử thách và đau khổ, nhưng đồng thời cũng là hạnh phúc sâu xa và niềm vui bao la nếu được sống bằng tình yêu và lòng biết ơn. Và nhất là khi, trong Chúa, đó là con đường Vượt Qua, dẫn chúng ta đến ơn huệ sự sống gấp trăm và viên mãn.

3. « Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép »

Chính Chúa ban sự sống và ban lại sự sống gấp trăm, điều này, giúp chúng ta hiểu hiểu được ý nghĩa của lời dặn rất triệt để của Đức Giê-su, không thể áp dụng được trong thực tế, đó là không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép.

Như thế, chúng ta đi vùng sâu vùng xa hoặc đi Đông hay đi Tây làm sao được ? Không thể thực hiện được nhưng lại mang một ý nghĩa quyết định, đó là sứ mạng loan báo Tin Mừng của chúng ta không tuyệt đối phụ thuộc vào những phương tiện vật chất chúng ta có và những khả năng chúng ta tạo lập được, mặc dù những điều này là quan trọng. Sống ơn gọi và thi hành sứ mạng, chúng ta được mời gọi sống bằng ơn Chúa và bằng chính Chúa, chứ không phải bằng phương tiện và khả năng sinh sống và làm việc của riêng mình. Đó là ý nghĩa của phép lạ bánh hóa nhiều.

Và ơn Chúa được ban cho chúng ta một cách rất cụ thể ngang qua sự tiếp đón và quà tặng do người khác chia sẻ, cụ thể là bữa ăn :

Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó… Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.

(c. 7-8)

*  * *

Trong lời dặn dành cho các môn đệ được sai đi, Đức Giê-su nói tới bữa ăn người ta đãi tới hai lần :

Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó.

Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.

(c. 7 và 8)

Đó là bởi vì lương thực là ơn huệ Thiên Chúa ban (x. St 1-2; Đnl 8, 3): Chúa hiện diện nơi ơn huệ của Người, và khi hưởng dùng ơn huệ (nghĩa là nhìn, nghe, cảm, nếm và đụng), cụ thể là ơn huệ lương thực hằng ngày, chúng ta được mời gọi nhận ra và đi vào tương quan biết ơn với Đấng ban ơn huệ:

Người ban lương thực cho tất cả chúng sinh.
Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

(Tv 136, 25)

Và bánh ăn hằng ngày, vốn là ơn huệ của Thiên Chúa loan báo cho chúng ta Bánh Trường Sinh, Bánh ban sự sống đời đời là chính Đức Ki-tô, và Người là Ơn Huệ của mọi ơn huệ (x. Ga 4, 10 và Ga 6). Chính vì thế, Giáo Hội cho chúng ta đọc kinh Lạy Cha, trong đó có lời cầu: “xin cho chúng con lương thực hàng ngày”, trước khi đón nhận Mình Máu Thánh Đức Ki-tô.

Chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa, Cha của chúng ta mỗi ngày, và nhất là trước bữa ăn: “Lạy Cha, xin ban cho chúng con lương thực hằng ngày”; và quả thực, ơn huệ lương thực đã có đó ngay trên bàn trước mắt chúng ta rồi. Vì thế, lời nguyện này về ngôn từ là lời cầu xin, nhưng về tâm tình, là lời tạ ơn và ca tụng. Và bởi vì lương thực hằng ngày là ơn ban, nên sự sống của chúng ta, ở mức độ căn bản nhất là đến từ Chúa và là của Chúa.

Và điều Chúa chờ đợi nơi chúng ta, là một lời nguyện phát xuất từ con tim biết ơn và dâng hiến: “Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả”, trong tâm tình ca tụng, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa”, theo khuôn mẫu của Đức Ki-tô Thánh Thể.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


Chúa Giê-su, Bánh Hằng Sống

“Chúa ban BÁNH cho tất cả chúng sinh,
Muôn bàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”

(Tv 136 ; Tuần IV, thứ hai, Kinh Chiều)

I. Vĩnh cửu và mới mẻ

1. Vĩnh cửu

Tv 136 là một trong các Thánh Vịnh được biết đến nhiều nhất, vì trong đó có một câu cứ được lập đi lập lại từ đầu đến cuối như một điệp khúc:

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương .

Câu này được lập lại đúng 26 lần. Cứ sau mỗi câu, ứng với một hàng, lời này lại được lập lại. Như thế, cả Thánh Vịnh có 26 câu, thì có 26 lần điệp khúc này được hát lên. Nhưng tại sao cứ luôn lập đi lập lại cùng một điều? Lý do rất đơn giản, vì đó luôn luôn là cùng một điều: “muôn ngàn đời” mà! Lập đi lập lại không đổi, đó chính là cách diễn tả ý nghĩa của hạn từ “muôn ngàn đời” hay “vĩnh cửu”, là cách khuôn mình theo ý nghĩa của nó. Lập đi lập lại đôi khi tạo ra sự đơn điệu, nhưng nó cũng có thể làm cho vui thích. Đó chính là trường hợp của lời ca tụng: ca tụng, đó là nói không biết chán điều làm cho chúng ta vui thích: “bây giờ và luôn mãi đến thiên thu vạn đại”. Như thế, điều tốt đẹp hiện diện trước mặt chúng ta phải thực sự tốt đẹp để không cần phải thay đổi. Điều tốt đẹp này chính là “tình thương của Chúa”. Hạn từ Do thái mà chúng ta dịch ra là “tình thương của Chúa”, còn gợi ra tương quan giao ước, và vì thế, nó cũng gợi lên sự kéo dài, tính ổn định và ngay cả vĩnh cửu, vì đây là giao ước của Thiên Chúa. Vì thuộc về một giao ước trong đó tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta tồn tại luôn mãi, nên chúng ta nói không biết chán điều tốt đẹp mà mình nhận được:

Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Hãy tạ ơn Thần các thần,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Hãy tạ ơn Chúa các chúa,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

(c. 1-3)

2. Mới mẻ

Có đúng là không biết chán không? Vì chúng ta sẽ ngủ gật mất, nếu 26 câu kia không mỗi lần mỗi khác. Thật vậy, tất cả các câu còn lại của Thánh Vịnh đều khác nhau, cho dù trong ba câu đầu mà chúng ta vừa trích dẫn, sự khác biệt không được lớn lắm: danh xưng của Thiên Chúa được nêu khác đi một chút ở mỗi câu, bởi lẽ đây là lúc lấy đà dựa trên Danh Chúa và chắc chắn được hát lên với nhiều cảm nếm. Điều mà Danh của Thiên Chúa muốn diễn tả và chứa đựng, đó chính là tất cả chủ đề của Tv 136.

Ứng với hai mươi sáu câu giống nhau, có hai mươi sáu câu khác nhau. Tại sao lại khác nhau? Bởi vì nội dung của Tv 136 là một trình thuật, nghĩa là các biến cố được kể lại. Và trong một câu truyện, luôn luôn xảy ra điều gì đó. Mọi trình thuật đều nhất thiết được phân thành những tình tiết và chỉ có tình tiết khi một sự kiện mới được thuật lại. Chính vì thế, mỗi câu, ít nhất là từ câu 5 đến câu 23, đều diễn tả một biến cố đặc biệt, trừ trường hợp nội dung của câu chỉ là lời loan báo cho những gì sẽ được nói tới (c. 4) hoặc là phần tiếp theo của những gì đang được kể (c. 12.18.22). Các câu 23-24 là phần tóm tắt. Những gì được kể lại gần như là một bản tóm của Sách Thánh, từ sách Sáng Thế đến sách Giosuê, và có thể được chia thành hai phần: phần trình thuật sáng tạo (c. 4-9) và phần trình thuật lịch sử (c. 10-24). Kể lại, đó là trình bày một chuỗi các tình tiết liên tục, vốn là điều tạo ra sự chú ý và thích thú. Nhưng ở đây, trong Thánh Vịnh của chúng ta, điệp khúc “muôn ngàn đời tình thương của Chúa”, giống như những nhát kéo, cắt rời các tình tiết ra. Vậy, “sự cố này” có thể tạo ra những hiệu ứng nào?

Sự cố điệp khúc “muôn ngàn đời tình thương của Chúa” cắt rời chuỗi liên tục các sự kiện, muốn làm cho chúng ta hiểu rằng một biến cố xẩy ra không do bởi biến cố có trước, nhưng bởi sự kiện Thiên Chúa muốn biến cố đó. Cách trình bày như thế làm cho chúng cảm nghiệm được rằng một đàng, mọi tình tiết đều mới mẻ và đàng khác, tình thương của Chúa thì vĩnh cửu. Như thế, hiệu ứng của kết cấu theo từng cặp của Tv 136 là làm cho chúng ta nghiệm được thế nào là hành động của Thiên Chúa: luôn luôn cùng một điều và luôn luôn mới mẻ! Điều này vượt quá thân phận của con người trong thế giới, bởi vì đối với con người cái gì vĩnh cửu thì bất động, thì không mới (chẳng hạn các đền đài cổ xưa hay các rặng núi hùng vĩ) và cái gì mới thì không vĩnh cửu (tiểu biểu nhất là diễn biến thời sự trong cuộc sống, tất cả đều mới lạ nhưng rồi cũng đến lúc kết thúc hay lụi tàn, dù cho có dài như “Truyện 1001 đêm”!).

Không có điều gì thuộc thế giới này có thể chứa đựng được nơi chốn mà ở đó vĩnh cửu và mới mẻ chỉ là một, bởi lẽ chính nơi chốn này chứa đựng thế giới và vì thế chúng ta phải bỏ đi mọi chỗ dựa để đi vào nơi chốn này. Tuy nhiên, Tv 136 lại cố làm cho chúng ta nhận ra rằng mới mẻ và vĩnh cửu đã đi tìm nhau gặp nhau rồi, ngay trong thế giới này bởi sự hiện diện năng động của Thiên Chúa.

II. Sáng tạo và lịch sử

Như chúng ta đã nói, Tv 136 có thể được chia thành hai phần: phần sáng tạo diễn tả khía cạnh vĩnh cửu và phần lịch sử nói về khía cạnh mới mẻ. Sáng tạo được gợi ra cho chúng ta bởi không gian, vốn diễn tả vĩnh cửu, trong khi lịch sử lại liên quan đến thời gian, và chính trong thời gian mà cái mới xẩy diễn ra. Như thế, Thánh Vịnh 136 đã kết hợp được hai giá trị, mới mẻ và vĩnh cửu, ngay ở trong kết cấu đặc biệt của nó.

Sáng tạo diễn tả khía cạnh vĩnh cửu, bởi lẽ các công trình được kể ra tồn tại thật lâu dài:

Tầng trời cao Chúa tạo dựng tài tình,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

trải mặt đất này trên làn nước bao la,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

Người làm ra những đèn trời to lớn,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

cho thái dương điều khiển ban ngày,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

đặt trăng sao hướng dẫn ban đêm,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

(c. 5-9)

Nếu so sánh phần sáng tạo vừa trích dẫn với trình thuật sáng tạo “Bảy Ngày” trong sách Sáng Thế (St 1, 1-2, 4a), chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra tác giả thánh vịnh dừng lại ở ngày thứ tư, nghĩa là ngày các vì tinh tú được tạo dựng. Phải chăng, đối với tác giả, sáng tạo được hoàn tất vào chiều tối thứ tư, sau khi đồng hồ các vì tinh tú đã được lên dây cót để vận hành mãi mãi? Tại sao khuôn khổ bảy ngày không được áp dụng tới cùng ở đây?

Lý do thật đơn giản: tất cả những gì được kể trong Thánh Vịnh thì có cùng bản chất, đó là những phần bất biến của sáng tạo, và là dấu chỉ của vĩnh cửu. Chúng ta có thể gọi phần này là phần “bất động sản” của sáng tạo. Nhưng, những gì mà Thánh Vịnh không kể ra cũng thuộc về một khối thuần nhất, đó là thảo mộc, thú vật và con người, nghĩa là thế giới sinh động chóng qua, vốn là dấu chỉ của cái mới. Chúng ta có thể gọi phần này là phần “động sản” của sáng tạo. Tv 136 đã thay thế, ngay sau câu 9, khung cảnh sinh vật bằng khung cảnh lịch sử, trong đó cái mới được thể hiện.

Như vậy, Tv 136 đã đặt sáng tạo như là lời tựa của trình thuật lịch sử: sáng tạo chất chứa lời hứa vĩnh cửu, nhưng lịch sử, nơi chốn của cái mới, và cũng của những hiểm nguy, có giữ trọn được lời hứa của sáng tạo không?

III. “Người ban bánh cho tất cả chúng sinh”

Như đã được trình bày, vĩnh cửu được diễn tả bởi điều tương ứng với nội dung của bốn ngày đầu của sáng tạo (c. 4-9), và cái mới được diễn tả bởi việc nhắc lại lịch sử (c. 10-24). Nhưng chúng ta còn phải tìm hiểu sự hiệp nhất giữa vĩnh cửu và cái mới được biểu đạt như thế nào trong Tv 136, bởi vì, nếu không có sự hiệp nhất này, thì có lẽ Thiên Chúa sẽ không được diễn tả cách trọn vẹn.

1. Ơn huệ lương thực

Trình thuật sáng tạo “Bảy Ngày” hướng tới một cùng đích, và trình thuật lịch sử khai sinh ra Israel (thường được nhắc lại trong các bản văn Giao Ước) cũng hướng tới một cùng đích. Thật vậy, ơn huệ sau cùng của trình thuật kể lại tuần đầu tiên của vũ trụ, chính là ơn huệ lương thực (St 1, 29-30); và trong trình thuật lịch sử khai sinh ra Israel, cùng đích cũng là bánh Thiên Chúa ban cho dân của Ngài, bánh phát xuất từ đất mà Ngài dẫn dân đến cư ngụ. Như thế, sáng tạo và lịch sử đều có cùng một điểm tới! Chính vì thế mà, trong Tv 136, không có hai lần nói về lương thực. Chỉ có một lần thôi, và đó chính là điểm kết thúc duy nhất ở đó tiến trình sáng tạo và tiến trình lịch sử, chiều kích vĩnh cửu và chiều kích mới mẻ gặp gỡ nhau:

Người ban bánh cho tất cả chúng sinh,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Hãy tạ ơn Chúa cửu trùng,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

(c. 25-26)

Chúng ta có thể bị choáng, vì nhận ra rằng tấm bánh thường ngày thật quen thuộc và thật đơn sơ, nhưng lại mang một sức nặng ý nghĩa và sự sống quá lớn. Bởi vì bánh diễn tả cuộc gặp gỡ giữa vĩnh cửu và cái mới, và nhất là vì bánh diễn đạt Thiên Chúa và trao ban Thiên Chúa; bởi lẽ, tấm bánh tuy bình thường, nhưng lại chất chứa cùng một lúc vĩnh cửu và cái mới. Điều này giúp chúng ta hiểu được tại sao ĐGS nói: “Ta là bánh hằng sống”. Như thế, tác giả Tv 136 đã tìm ra “điểm hội tụ” của sáng tạo và lịch sử, của vĩnh cửu và cái mới, nơi tấm bánh! Nhưng con đường dẫn đến tấm bánh không thật dễ dàng.

2. Con đường của “bánh”

Để có được tấm bánh đặt ở trên bàn, chắc chắn cần phải có sáng tạo (đất đai, hạt giống, nước, ánh sáng,…), nhưng cũng cần có những lao nhọc, và cả sự giải phóng khỏi những kẻ áp bức nữa. Tv 136 kết thúc với tấm bánh được nhìn nhận như là ơn huệ. Nhưng, trong cuộc sống, Thánh Vịnh được đọc lên để tạ ơn về tấm bánh đã có sẵn ở trên bàn rồi. Tv 136 chính là lời tạ ơn trên bánh; và để tạ ơn, thì phải nhớ lại, nhớ lại ơn huệ sáng tạo, nhớ lại những nhục nhằn của tổ tiên.

Tấm bánh cần đến “sáng tạo gần” (sáng tạo hôm nay), nhưng dưới áp lực của phần trình thuật lịch sử, đã được đẩy lùi thật xa, đến tận “sáng tạo xa” (sáng tạo khởi nguyên); và như thế, tấm bánh, có ở trên bàn, trở thành điểm hẹn của lịch sử phổ quát. Thật vậy, Tv 136 không nói: “… cho Israel”, nhưng đã nói: “Người ban bánh cho tất cả chúng sinh”. Ngoài ra, tấm bánh có ở trên bàn không chỉ biểu thị tương quan trực tiếp với Thiên Chúa sáng tạo, nhưng còn diễn tả tương quan với con người trong điều kiện lịch sử cụ thể (chính trị, xã hội, việc làm, áp bức, đấu tranh, …): bánh ở đây là bánh của những con người tự do, đã được kéo ra khỏi cảnh nô lệ. Như thế, bánh mà Israel dùng hằng ngày đã đến từ Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng đi ngang qua những xung đột lịch sử. Và điều này cũng đúng với mọi người và mọi dân tộc:

Chúa đã nhớ đến ta trong cảnh nhục nhằn,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

gỡ ta thoát khỏi tay địch thù,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

(c. 23-24)

Người dâng lời tạ ơn vì tấm bánh được nhận ra như điểm gặp gỡ phổ quát, cũng chính là người được giải thoát khỏi bàn tay vấy máu muốn tiêu diệt. Như thế, lời hứa vĩnh cửu và thử thách cuộc đời hội tụ nơi cùng một tấm bánh.

*  * *

Tin Mừng theo thánh Matthêu kể lại rằng, chia sẻ bánh và rượu xong, Đức Giêsu hướng đến cuộc Thương Khó của Ngài “sau khi đã hát Thánh Vịnh” (Mt 26, 30). Câu này đặc biệt gợi lại cho chúng ta Tv 136, bởi vì cùng với các Thánh Vịnh khác, Tv 136 được hát lên để kết thúc bữa ăn Vượt Qua. Như thế Tv 136 hướng đến Thánh Thể và Thánh Thể làm tròn đầy Tv 136.

Vì thế, hát Tv 136 sẽ làm cho chúng ta gần gũi hơn với Đức Kitô, nhất là khi chúng ta nhận ra Ngài trong Thánh Vịnh này, vì Ngài chính là Đấng ban cho chúng ta Bánh của Thiên Chúa, Bánh có sức đổi mới mạnh mẽ hơn cả sự chết, vốn là thử thách tận cùng mà chính Ngài đã vượt qua. Nhưng đồng thời, khi hát Tv 136, chúng ta cũng trở nên gần gũi với tác giả Thánh Vịnh hơn, bởi vì chính tác giả cũng đã được lôi kéo bởi “Bánh Hằng Sống”. Giống như tác giả Thánh Vịnh, chính chúng ta cũng đang được lôi kéo và vẫn chưa đi hết con đường dẫn tới tấm bánh huyền nhiệm này.

Tin Mừng cho chúng ta biết tấm bánh này được nhào nắn như thế nào: bánh đã đi ngang qua thập giá của Đức Kitô, nơi chốn đích thật cho sự biến đổi của bánh. Nơi Thập Giá, lòng ước ao của chúng ta được mời gọi lắng nghe Tin Mừng về Bánh Hằng Sống, khi nhìn ngắm với lòng tin vẻ bề ngoài “nát tan”, không còn gì, của Đức Kitô chịu đóng đinh.

Sáng tạo:
Lời hứa
vĩnh cửu

Ơn huệ
lương thực➔ “Bánh hằng ngày”

Đức Ki-tô➔BÁNH THÁNH THỂ
đi ngang qua Thập Giá

Đức Ki-tô➔BÁNH HẰNG SỐNG
Chiến thắng sự chết
Lịch sử:
Thử thách
đau khổ

Nếu bánh ăn hằng ngày không làm cho chúng ta chiến thắng sự chết, thì Bánh Hằng Sống, là chính Đức Giê-su, sẽ làm cho chúng ta chiến thắng sự chết, bởi vì chính Ngài đã vượt qua và chiến thắng cả tiến trình dẫn đến sự chết và chính cái chết trong cuộc Thương Khó. Đức Kitô đã đưa những lời của Tv 136 vào trong chính cái chết của Ngài. Vì thế, dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua, chúng ta được mời gọi nhận ra lời hứa vĩnh cửu nơi những lời của Tv 136:

Người ban BÁNH cho tất cả chúng sinh,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Chúng ta được mời gọi bước vào hành trình chiêm ngắm  mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Đức Ki-tô với tâm tình tạ ơn của Tv 136 và nhận ra “Tình yêu muôn ngàn đời của Thiên Chúa” được thể hiện cách tron vẹn nơi Người.

Hãy tạ ơn Chúa cửu trùng,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Giuse Nguyễn Văn Lộc

CẤU TRÚC
của THÁNH VỊNH 136


Cấu trúc
Hành động của Thiên Chúa
(diễn tả chính Thiên Chúa)
Vĩnh cửuMới mẻ
Cấu trúccủa một câuPhần không đổi :
Tình yêu của Thiên Chúa“Muôn ngàn đời
Chúa vẫn trọn tình thương
Phần thay đổi :
Kỳ công của Thiên ChúaTrong Sáng Tạo
và trong Lịch Sử


Cấu trúccủa Thánh Vịnh
Lời tạ ơn khởi đầu(c. 1-3)
Sángtạo(c. 4-9)Lịch sử(c. 10-24)
Điểm hội tụBÁNH
(c. 25)
Lời tạ ơn kết thúc
(c. 26)

1. “Ơn huệ bánh hằng ngày” đến từ:

  • Sáng Tạo (vì là hoa mầu của ruộng đất), diễn tả chiều kích vĩnh cửu.
  • và từ Lịch Sử (vì là kết quả do lao công của con người), diễn tả chiều kích mới mẻ.

Như thế, “Ơn huệ bánh hàng ngày” tự nó đã diễn tả chính Thiên Chúa rồi. Vì “bánh hằng ngày” mang trong mình đồng thời hai chiều kích vĩnh cửu và mới mẻ, vốn diễn tả hành động của Thiên Chúa. Thế mà, hành động của Thiên Chúa diễn tả chính Thiên Chúa.

2. Tin Mừng theo thánh Matthêu kể lại rằng, chia sẻ bánh và rượu xong, Đức Giêsu hướng đến cuộc Thương Khó của Ngài “sau khi đã hát Thánh Vịnh” (Mt 26, 30). Câu này đặc biệt gợi lại cho chúng ta Tv 136, bởi vì cùng với các Thánh Vịnh khác, Tv 136 được hát lên để kết thúc bữa ăn Vượt Qua. Như thế Tv 136 hướng đến Thánh Thể và Thánh Thể làm tròn đầy Tv 136.

Vì thế, hát Tv 136 sẽ làm cho chúng ta gần gũi hơn với Đức Kitô, nhất là khi chúng ta nhận ra Ngài trong Thánh Vịnh này, vì Ngài chính là Đấng ban cho chúng ta Bánh của Thiên Chúa, Bánh có sức đổi mới mạnh mẽ hơn cả sự chết, vốn là thử thách tận cùng mà chính Ngài đã vượt qua. Nhưng đồng thời, khi hát Tv 136, chúng ta cũng trở nên gần gũi với tác giả Thánh Vịnh hơn, bởi vì chính tác giả cũng đã được lôi kéo bởi “Bánh Hằng Sống”. Giống như tác giả Thánh Vịnh, chính chúng ta cũng đang được lôi kéo và vẫn chưa đi hết con đường dẫn tới tấm bánh huyền nhiệm này.

3. Trong bữa tiệc ly, Đức Giê-su cầm lấy BÁNH HẰNG NGÀY, tạ ơn, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ và nói:

Các con hãy cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy

Như thế, nơi Bí Tích Thánh Thể, Chúa ban cho chúng ta BÁNH HẰNG SỐNG, là chính Chúa.

Tin Mừng cho chúng ta biết tấm TẤM BÁNH này được nhào nắn và đi qua con đường nào: BÁNH đã đi ngang qua thập giá của Đức Kitô, nơi chốn đích thật cho sự biến đổi của BÁNH, đồng thời cho thấy BÁNH HẰNG SỐNG mạnh hơn sự chết.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc